(Tài liệu phục vụ họp báo Chính phủ thường kỳ ngày 30 tháng 9 năm 2009)
Với sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của Chính phủ, sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp và toàn dân, trong tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2009, nền kinh tế tiếp tục có những chuyển biến tích cực theo hướng phục hồi khá nhanh trong hầu hết các ngành và lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
1. Về tăng trưởng kinh tế và phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế
a) Về tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)
Nền kinh tế đa có xu hướng phục hồi rõ nét. Tốc độ tăng GDP 9 tháng đầu năm đạt 4,56% (Quý I đạt 3,14%, Quý II đạt 4,46%, Quý III đạt 5,76%); trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,57%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,48%, dịch vụ tăng 5,91%. Tăng trưởng ở cả 3 khu vực trong Quý III đều cao hơn so với Quý I và Quý II.
b) Sản xuất công nghiệp và xây dựng đang có chuyển biến khá nhanh
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9 tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 16,5% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15%. Tính chung 9 tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó, khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 8,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7%.
Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp tăng nhanh qua từng quý: Quý I tăng 0,9%, Quý II tăng 3,8% và Quý III tăng 4,9%.
Ngành xây dựng đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhờ tận dụng được cơ hội giá vật liệu xuống thấp và thị trường bất động sản có dấu hiệu bước đầu phục hồi, cùng với việc bổ sung thêm nhiều nguồn vốn thực hiện các dự án đầu tư từ giải pháp kích cầu của Chính phủ. Từ mức tăng trưởng âm 0,4% về giá trị gia tăng trong năm 2008 đa tăng lên 9,73% trong 9 tháng đầu năm, trong đó: Quý I tăng 6,92%, Quý II tăng 9,83%, Quý III tăng 11,04%.
c) Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển ổn định
Giá trị sản xuất toàn ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đầu năm 2009 tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó nông nghiệp tăng 2,3%, lâm nghiệp tăng 2,8%, thủy sản tăng 3,3%.
Giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng liên tục tăng: Quý I tăng 1,25%, Quý II tăng 1,42%, Quý III tăng 1,98%.
- Về sản xuất nông nghiệp: Tính đến ngày 15/9/2009, tổng diện tích lúa mùa cả nước đạt 1.704 nghìn ha, tăng 2,6% so với cùng kỳ 2008. Thu hoạch lúa hè thu ở Miền Nam đạt 1.785 nghìn ha, tăng 0,2% so với cùng kỳ; trong đó đồng bằng sông Cửu long đạt 1517 nghìn ha.
Diện tích gieo trồng các cây màu lương thực trong cả nước đạt gần 1,6 triệu ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Tổng diện tích cây công nghiệp ngắn ngày đạt 447 nghìn ha, tăng 4,9% so cùng kỳ.
Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển ổn định. Tính đến ngày 21/9/2009, cả nước
không còn địa phương nào có dịch cúm gia cầm, trừ Bạc Liêu có dịch tai xanh chưa qua 21 ngày và 12 tỉnh có dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày.
- Về lâm nghiệp: tính đến hết tháng 9 năm 2009, diện tích trồng rừng tập trung trên cả nước đạt 158 nghìn ha, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh đạt 742 nghìn ha, tăng 1,6%; diện tích rừng được chăm sóc 315 nghìn ha, giảm 1,6%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 2.581 nghìn m3, tăng 6%.
- Về thủy sản: Sản lượng khai thác thuỷ sản 9 tháng năm 2009 tăng 6,8 % so với cùng kỳ, là mức tăng cao nhất trong 8 năm trở lại đây. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản 9 tháng tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2008.
d) Các hoạt động khu vực dịch vụ tiếp tục phát triển
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ xã hội tháng 9 đạt 101,5 nghìn tỷ đồng; 9 tháng đầu năm đạt 845,4 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ 2008 (nếu loại trừ yếu tố giá tăng khoảng 12%).
Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong tháng 9 đạt 294 nghìn lượt khách, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước; 9 tháng đạt 2,77 triệu lượt khách, giảm 16% so với cùng kỳ năm 2008.
Sản lượng vận tải hàng hoá 9 tháng năm 2009 đạt tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2008, khối lượng luân chuyển tăng 8,7% so với cùng kỳ; sản lượng vận tải hành khách tăng 8,5%; khối lượng luân chuyển hành khách tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2008.
Số thuê bao điện thoại phát triển mới trong 9 tháng đầu năm đạt 32,3 triệu thuê bao, tăng 74,1% so với cùng kỳ năm 2008, nâng tổng số thuê bao điện thoại trên toàn mạng đạt 113,6 triệu thuê bao (trong đó thuê bao di động chiếm 84,5%). Số thuê bao Internet băng rộng đến cuối tháng 9/2009 đạt 2,7 triệu thuê bao. Số người sử dụng dịch vụ Internet đến cuối tháng 9/2009 là 22,4 triệu.
đ) Phát triển doanh nghiệp
Nhờ thực hiện tốt các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, đa củng cố lòng tin của các nhà đầu tư. Vì vậy, trong điều kiện rất khó khăn của nền kinh tế, 9 tháng đầu năm cả nước có 62 nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, tăng 26% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, về số vốn đăng ký chỉ đạt 313 nghìn tỷ đồng, giảm 15,4% so với cùng kỳ.
2. Về các cân đối vĩ mô
a) Thu chi ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước 15 ngày đầu tháng 9 ước đạt 15,1 nghìn tỷ đồng; luỹ kế từ đầu năm đến nửa đầu tháng 9, ước đạt 274,4 nghìn tỷ đồng, bằng 70,4% dự toán cả năm, giảm 12,1% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó thu nội địa đạt gần 168 nghìn tỷ đồng, bằng 72,1% dự toán năm, thu từ dầu thô đạt gần 39,2 nghìn tỷ đồng, bằng 61,5% dự toán và giảm 33,9% so với cùng kỳ, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt gần 63,2 nghìn tỷ đồng, bằng 71,6% dự toán và giảm 17,1% so với cùng kỳ.
Chi ngân sách nhà nước 15 ngày đầu tháng 9 ước đạt 20,5 nghìn tỷ đồng. Luỹ kế đến 15/9, tổng chi
ngân sách đạt 330,2 nghìn tỷ đồng, bằng 67,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 75,8 nghìn tỷ đồng, bằng 67,2% dự toán năm (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 71 nghìn tỷ đồng, bằng 66% dự toán năm), chi sự nghiệp kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh đạt 212,9 nghìn tỷ đồng, bằng 69,6% dự toán, chi trả nợ và viện trợ đạt gần 41,6 nghìn tỷ đồng, bằng 70,7% dự toán năm.
b) Đầu tư phát triển
Nhờ thực hiện chính sách kích cầu đầu tư, các nguồn vốn đầu tư phát triển, nhất là nguồn vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước những tháng vừa qua đa tăng mạnh. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 9 tháng năm 2009 ước tính đạt 483,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: Nguồn vốn Nhà nước 174,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,1% và tăng 45,5%; nguồn vốn ngoài Nhà nước 189,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,3% và tăng 12,6%; nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài 119,2 nghìn tỷ đồng
(khoảng 7,2 tỷ USD), chiếm 24,7% và giảm 11,2%.
Về vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Tính đến hết tháng 9 năm 2009, giải ngân nguồn vốn tín dụng đầu tư ước đạt 18,8 nghìn tỷ đồng, bằng 53,4% kế hoạch năm.
Về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: 9 tháng đầu năm 2009, cả nước có 583 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư đạt 7.673 triệu USD, giảm 57,3% về số dự án và giảm 85,7% so với cùng kỳ năm 2008. Tổng số lượt dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất trong 9 tháng đầu năm là 168 lượt dự án với tổng số vốn là 4.868 triệu USD. Tính chung cả vốn đầu tư cấp chứng nhận mới và tăng thêm trong 9 tháng đầu năm đạt 12.541 triệu USD.
Về thu hút vốn ODA: tính từ đầu năm đến ngày 21/9/2009, tổng giá trị vốn ODA được ký thông qua các Hiệp định với các nhà tài trợ đạt 3.236 triệu USD. Mức giải ngân ODA 9 tháng đầu năm 2009 ước đạt 1.715 triệu USD, bằng 90% kế hoạch giải ngân của cả năm 2009.
c) Xuất nhập khẩu
- Xuất khẩu: Ước thực hiện xuất khẩu tháng 9 năm 2009 đạt 4,68 tỷ USD, tăng 3,5% so với tháng trước; trong đó, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 2,05 tỷ USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2009 ước đạt 41,73 tỷ USD, giảm 14,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 16,7 tỷ USD, giảm 6,3%.
- Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu tháng 9 ước đạt 6,2 tỷ USD, tăng 6% so với tháng 8 năm 2009; trong đó, nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 2,25 tỷ USD, tăng 2,8% so với tháng trước. Tính chung kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2009 đạt 48,28 tỷ USD, giảm 25,2% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 17,7 tỷ USD, giảm 19%.
Nhập siêu trong 9 tháng đầu năm là 6,54 tỷ USD, bằng 15,67% tổng kim ngạch xuất khẩu.
d) Thị trường chứng khoán
Do tác động của suy thoái kinh tế thế giới và những khó khăn trong nước, hiệu quả đầu tư kinh doanh giảm sút, chỉ số giá chứng khoán (VN-Index) trong Quý I có thời điểm đa giảm xuống 235 điểm, giảm tới 80% so với mức cao nhất trong năm 2008. Thời gian gần đây, nhờ tác động tích cực của phục hồi kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô, thị trường chứng khoán đang từng bước phục hồi với giao dịch sôi động hơn. Chỉ số giá chứng khoán (VN-Index) đa tăng dần lên và hiện đang dao động trong khoảng 580 điểm. Tuy nhiên, chỉ số giá thị trường chứng khoán chưa ổn định.
đ) Chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng đầu năm dao động ở mức thấp, nhưng có xu hướng đang tăng lên.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2009 tăng 0,62% so với tháng trước, so với tháng 12/2008 tăng 4,11%; so với cùng kỳ năm trước tăng 2,42%. Chỉ số giá bình quân 9 tháng năm 2009 so với cùng kỳ năm ngoái tăng 7,64%.
So với tháng 8, chỉ số giá vàng tăng 2,04%; chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,23%. So với tháng 12/2008, chỉ số giá vàng tăng 28,65%; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 6,12%.
3. Về bảo đảm an sinh xã hội, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và các lĩnh vực xã hội khác
a) Về giảm nghèo, an sinh xã hội, lao động và việc làm
Mặc dù những tháng đầu năm thiên tai, dịch bệnh, suy giảm kinh tế ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo, tăng tái nghèo, phát sinh hộ nghèo mới ở một số địa phương. Nhưng nhờ sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành với địa phương trong chỉ đạo, điều hành thực hiện, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, đoàn thể, sự nỗ lực phấn đấu của các cấp chính quyền cơ sở và bản thân hộ nghèo, sự tham gia, đóng góp của các doanh nghiệp về vốn, hỗ trợ kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm cho hộ nghèo, xã nghèo, đời sống nhân
dân và an sinh xã hội được đảm bảo, nhất là đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa,...
Triển khai Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo: Đến nay 62/62 huyện xây dựng xong đề án. Chính phủ đa ứng vốn đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp để thực hiện các chính sách đối với các huyện nghèo. Đa có 37 Tập đoàn, Tổng công ty và doanh nghiệp nhận giúp 62/62 huyện nghèo với cam kết hỗ trợ 2 năm (2009 – 2010) trên 800 tỷ đồng.
Tháng 9, ước tạo việc làm khoảng 130.000 người, đưa tổng số người được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay lên 1,0 triệu người, đạt 59% kế hoạch. Xuất khẩu lao động tháng 9 ước đạt 5.000 người;
9 tháng đầu năm đạt khoảng 50,6 ngàn người. Quan hệ lao động, điều kiện lao động 9 tháng đầu năm có nhiều cải thiện: tranh chấp lao động, đinh công giảm khoảng 70%; tai nạn lao động giảm cả về số vụ và số người bị tai nạn.
b) Về chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Trong tháng, Bộ Y tế đa chỉ đạo các Sở Y tế, Trung tâm y tế dự phòng tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình bệnh dịch, chỉ đạo phòng chống các loại dịch bệnh, nhất là một số bệnh dịch vẫn có xu hướng gia tăng: dịch cúm A (H1N1), sốt xuất huyết, viêm não vi rút...
Cúm A (H1N1): Từ ngày 19/8 đến ngày 20/9/2009 ghi nhận 5715 trường hợp mắc mới, trong đó có 05 trường hợp tử vong. Tích luỹ số mắc từ đầu năm tới nay là 6.883; trong đó có 7 trường hợp tử vong.
Sốt xuất huyết: Trong tháng có 53 địa phương ghi nhận với tổng số mắc/tử vong là 10.499/5, tích lũy số mắc/tử vong từ đầu năm là 57.102/44. So với cùng kỳ năm 2008, số mắc tăng 17,5%, số tử vong giảm 5 trường hợp.
Viêm não vi rút: Trong tháng có 28 địa phương ghi nhận với tổng số mắc/tử vong là 124/3. Tích lũy số mắc/tử vong từ đầu năm là 700/15. So với cùng kỳ năm 2008, số mắc tăng 27,5 %, số tử vong giảm 7 trường hợp.
c) Về giáo dục đào tạo
Ngành giáo dục đào tạo tập trung tổ chức khai giảng năm học mới. Triển khai Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực năm học 2009-2010” giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du lịch, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Khuyến học Việt Nam; rà soát việc triển khai thực hiện được yêu cầu “3 đủ” đối với học sinh: “đủ ăn, đủ quần áo, đủ sách vở”. Tiếp tục thực hiện các chương trình đổi mới giảng dạy và học tập.
d) Văn hóa - thể thao
Ngành văn hóa, thông tin tập trung chuẩn bị và tổ chức các hoạt động văn hóa, tuyên truyền Kỷ niệm 64 Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 40 năm thực hiện và làm theo Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các phương tiện thông tin tập trung đưa tin về khai giảng năm học 2009-2010, những vấn đề bất cập, nổi cộm về tuyển học sinh vào các lớp đầu cấp, đặc biệt là cấp Tiểu học... Đài Tiếng nói Việt Nam đa khánh thành và đưa vào hoạt động Dự án Phủ sóng Biển đông, góp phần tích
cực vào công tác phòng chống thiên tai và cứu nạn cho ngư dân trên toàn vùng lãnh hải Việt Nam. Ngành thể thao tập trung chỉ đạo công tác xây dựng và hoàn thành các công trình phục vụ Đại hội thể thao châu Á trong nhà (AI games 3) tổ chức tại Việt Nam; tiếp tục chỉ đạo các trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia triển khai kế hoạch tập huấn các đội tuyển quốc gia nhằm chuẩn bị cho SeaGames 25 năm 2009 tại Lào và các giải thể thao quốc tế trong năm./.
Nguồn: Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân - Bộ Kế hoạch và Đầu tư